Thủ tướng đồng ý ban hành chuẩn nghèo mới

Thứ tư 30/12/2020 09:05

(Chinhphu.vn)- Chiều 29/12, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc chủ trì phiên họp Chính phủ thường kỳ tháng 12/2020.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc phát biểu tại phiên họp. Ảnh: VGP/Quang Hiếu

Tại phiên họp, Chính phủ đã thảo luận dự thảo Nghị định quy định chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025 do Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội chủ trì.

Để thực hiện mục tiêu giảm nghèo, từ năm 1993 đến nay, Việt Nam đã 7 lần ban hành chuẩn nghèo quốc gia. Việc xây dựng chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025 để làm căn cứ để xác định, nhận diện chính xác hơn, toàn diện hơn hộ nghèo, hộ cận nghèo đa chiều và đối tượng khác thụ hưởng các chính sách, chương trình giảm nghèo và an sinh xã hội trên phạm vi toàn quốc. Đồng thời làm cơ sở thực tiễn để xác định mục tiêu, chỉ tiêu giảm nghèo trong Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ XIII, Nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ giai đoạn 2021-2025.

Chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025 cũng làm cơ sở cho việc đưa ra các chính sách, cơ chế, giải pháp thực hiện mục tiêu giảm nghèo đa chiều, bao trùm, bền vững. Tiêu chí đo lường nghèo đa chiều bao gồm đủ tiêu chí thu nhập và tiêu chí tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản để xác định, nhận diện chính xác hộ nghèo, hộ cận nghèo, bảo đảm phù hợp với phương pháp luận, bản chất nghèo đa chiều; tiêu chí thu nhập tiệm cận bằng chuẩn mức sống tối thiểu.

Sau khi nghe các ý kiến, kết luận về vấn đề này, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc cơ bản nhất trí nội dung dự thảo Nghị định, đồng ý chủ trương về việc ban hành chuẩn nghèo đa chiều quốc gia giai đoạn 2021-2025.

Chuẩn nghèo Việt Nam qua các giai đoạn

Việt Nam đã ban hành chuẩn nghèo qua 7 giai đoạn (1993-1995; 1995-1997; 1997-2000; 2001-2005; 2006-2010; 2011-2015; 2016-2020), cụ thể:

1. Chuẩn nghèo 1993-1995:

a) Hộ đói: bình quân thu nhập đầu người quy theo gạo/tháng dưới 13kg đối với thành thị, dưới 8kg đối với khu vực nông thôn.

b) Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người quy theo gạo/tháng dưới 20 kg đối với thành thị, dưới 15kg đối với khu vực nông thôn.

2. Chuẩn nghèo 1995-1997:

a) Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tính cho mọi vùng.

b) Hộ nghèo: là hộ có thu nhập:

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15kg/người/tháng.

- Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng.

- Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng.

3. Chuẩn nghèo 1997-2000

a) Hộ đói: là hộ có mức thu nhập bình quân một người trong hộ một tháng quy ra gạo dưới 13kg, tương đương 45 ngàn đồng (giá năm 1997, tính cho mọi vùng).

b) Hộ nghèo: là hộ có thu nhập tùy theo từng vùng ở các mức tương ứng như sau:

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: dưới 15 kg/người/tháng (tương đương 55 ngàn đồng).

- Vùng nông thôn, đồng bằng, trung du: dưới 20kg/người/tháng (tương đương 70 ngàn đồng).

- Vùng thành thị: dưới 25kg/người/tháng (tương đương 90 ngàn đồng).

4. Giai đoạn 2001-2005 (theo Quyết định số 1143/2000/QĐ-LĐTBXH ngày 01/11/2000)

Hộ nghèo là hộ có thu nhập bình quân đầu người trong hộ cho từng vùng với mức tương ứng như sau:

- Vùng nông thôn miền núi, hải đảo: 80.000 đồng/người/tháng.

- Vùng nông thôn đồng bằng: 100.000 đồng/người/tháng.

- Vùng thành thị: 150.000 đồng/người/tháng.

5. Giai đoạn 2006-2010 (Theo Quyết định số 170/2005/QĐ-TTg ngày 08 tháng 7 năm 2005) quy định những người có mức thu nhập sau được xếp vào nhóm hộ nghèo:

- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực nông thôn là dưới 200.000 đồng/người/tháng.

- Thu nhập bình quân đầu người đối với khu vực thành thị là dưới 260.000đồng/người/tháng.

6. Giai đoạn 2011-2015: (Quyết định số 09/2011/QĐ-TTg ngày 30/01/2011) có quy định như sau :

a) Hộ nghèo:

- Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 400.000 đồng/người/tháng trở xuống.

- Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 500.000 đồng/người/tháng trở xuống.

b) Hộ cận nghèo:

- Vùng nông thôn: có mức thu nhập từ 401.000 - 520.000 đồng/người/tháng.

- Vùng thành thị: có mức thu nhập từ 501.000 - 650.000 đồng/người/tháng.

7. Giai đoạn 2016-2020 (Quyết định số 59/2015/QĐ-TTg ngày 19/11/2015) có quy định như sau:

a) Hộ nghèo:

- Khu vực nông thôn: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 700.000 đồng trở xuống;

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

- Khu vực thành thị: là hộ đáp ứng một trong hai tiêu chí sau:

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng từ đủ 900.000 đồng trở xuống;

+ Có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt từ 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản trở lên.

b) Hộ cận nghèo

- Khu vực nông thôn: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 700.000 đồng đến 1.000.000 đồng và thiếu hụt dưới 03 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

- Khu vực thành thị: là hộ có thu nhập bình quân đầu người/tháng trên 900.000 đồng đến 1.300.000 đồng và thiếu hụt dưới 3 chỉ số đo lường mức độ thiếu hụt tiếp cận các dịch vụ xã hội cơ bản.

BT

Viết bình luận

Hãy sử dụng tiếng Việt có dấu khi viết bài. Bình luận của bạn sẽ được biên tập trước khi đăng

 (*) 

  (*)

   

Tắt bộ gõ Gõ tự động Telex VNI VIQR 

Số ký tự còn lại:

Protected by FormShield
Refresh